Lương Hoài Trọng Tính – “Cách Nhận Diện Thương Hiệu Quốc Gia Trọn Vẹn Nhất Là Qua Văn Hóa”

Tôi gặp Tính lần đầu trong một chương trình Kể chuyện về chiếc áo dài Việt Nam. Mặc chiếc áo dài nâu, đầu vấn khăn, Tính say sưa nói về hành trình khai sinh và trưởng thành của trang phục truyền thống đất Việt. Vốn kiến thức dày dặn, cách ăn nói chừng mực khiến tôi khá ấn tượng. Tìm hiểu kỹ hơn, tôi biết Tính sinh ra trong một gia đình Trà Vinh gia giáo, từ nhỏ đã được dạy dỗ chu đáo về lễ nghĩa. Mang theo tình yêu văn hóa đó lên đại học, Tính thành lập Đại Nam hội quán – một dự án khởi nghiệp, điểm hẹn của những người muốn tìm về các giá trị truyền thống của dân tộc.

Văn hóa Việt Nam “giống như một tấm kiếng đẹp đẽ nhưng bị ám bụi lâu ngày…”

Đó là nhận xét của Trọng Tính về những giá trị văn hóa Việt Nam. Chia sẻ về cảm hứng thúc đẩy mình thành lập Đại Nam hội quán, Tính bộc bạch: “Tại sao các nước Đông Á láng giềng cũng có nền văn hóa tương tự như mình nhưng họ biết cách khai thác và đưa văn hóa đó thấm nhuần vào cuộc sống hiện đại. Họ còn đưa văn hóa trở thành một thương hiệu quốc gia, một sản phẩm công nghiệp để lan tỏa rộng rãi với bạn bè quốc tế, vậy Việt Nam thì sao?”

Lương Hoài Trọng Tính – sáng lập Đại Nam hội quán

Theo Tính, văn hóa Việt Nam sở dĩ chưa được lan tỏa mạnh mẽ là do trải qua nhiều nét đứt gãy trong lịch sử.

Nét đứt gãy đầu tiên và lớn nhất đến từ các cuộc chiến tranh. Việc người Pháp đưa văn hóa phương Tây vào Việt Nam theo chiều hướng “chèn ép văn hóa nước bổn xứ” đã làm phai lợt nhiều các phong tục tập quán truyền thống.

Tiếp theo, tình hình kinh tế khó khăn sau ngày thống nhất đất nước  khiến đời sống tinh thần ngày càng ít được chú trọng. “Vào những năm 70 của thế kỷ trước, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh nam thanh nữ tú mặc áo dài đi ngoài phố. Họ được dạy dỗ về lễ nghĩa, khuôn phép cư xử trong nhà, ngoài xã hội… Nhưng từ khi nước ta thống nhất, gánh nặng cơm áo khiến người ta muốn giản tiện lễ nghĩa, những cách ăn mặc không cần thiết cho phù hợp hơn với đời sống không mấy khả quan lúc bấy giờ. Cơm chưa no, áo chưa ấm thì làm sao người ta suy nghĩ sâu sắc về văn hóa?” – Tính phân tích một cách rành mạch.

Chính trong giai đoạn này, Việt Nam bắt đầu mở cửa hội nhập quốc tế. Khi thế hệ ông già bà cả – những người canh giữ ngôi đền văn hóa xưa lần lượt nằm xuống thì thế hệ kế cận lại đang nặng gánh mưu sinh, cộng thêm nhiều làn gió văn hóa ồ ạt thổi vào, thành thử từ thập niên 80 trở đi, bản sắc truyền thống nước ta ngày càng mờ nhạt.

–  “Vậy theo Tính, để phát triển văn hóa thì cần những yếu tố nào?” – Tôi hỏi

–  “Cần có một cơ sở lý luận vững chắc và một cộng đồng lan tỏa” – Tính đáp. “Văn hóa không thể là thứ hời hợt. Chẳng hạn, nhắc đến Nhật người ta nghĩ tới Kimono, kiếm đạo, nhắc đến Hàn Quốc là hanbok, hanok. Vậy Việt Nam chúng ta có gì? Nhiều người nói vui là Việt Nam có chiến tranh. Đâu phải. Chiến tranh chỉ khắc họa một đất nước anh hùng chớ không thể gọi là một giá trị văn hóa. Nhiều nước khác cũng trải qua chiến tranh mà. Bởi vậy chúng ta cần đúc kết, hệ thống lại những giá trị để khi mọi người nhìn vào là biết ngay “À, đây là Việt Nam, một đất nước ở khu vực Đông Nam Á.”

“Giá trị văn hóa nước mình giống như một cái kiếng được chạm trổ đẹp đẽ nhưng để đó lâu ngày nên bị ám bụi. Không ai biết cách chùi sạch nó như thế nào. Tính nghĩ chúng ta phải soi sáng lại cái kiếng này mới trả lời được câu hỏi mình là ai. Mình là người Việt Nam, vậy Việt Nam có gì?” – Tính đặt ra một câu hỏi đầy trăn trở.

Dựa trên hai yếu tố đó, Tính và các anh em cộng sự đã xây dựng trang fanpage Đại Nam hội quán nhằm chia sẻ kiến thức về văn hóa với cộng đồng. Những bài đăng đều do nhóm dự án nghiên cứu, biên soạn qua ba giai đoạn chính: hệ thống lại những tri thức đã tiếp thu từ gia đình, tầm nguyên và đối chiếu với các tài liệu chữ Hán, chữ Nôm để kiểm tra tính chính xác, cuối cùng là khảo sát thực tế ở các tỉnh miền Nam. Theo Tính, “phong tục tập quán sẽ có sự biến đổi khác biệt theo từng địa phương nên mình đi thăm thú các nơi, hỏi han và ghi chép các điểm tương đồng, tiểu dị để xây nên một đề cương chia sẻ trong các chương trình của hội quán.”

Tính và các thành viên của Đại Nam hội quán

Tuy nhiên, nếu chỉ tìm hiểu và chia sẻ kiến thức mà không có cộng đồng truyền thừa, hoàn thiện thì cũng giống như “trải một con đường thiệt đẹp nhưng không bảo dưỡng, rồi cũng bị hư hại”. Tình yêu văn hóa đã trở thành cây cầu đưa nhiều bạn trẻ từ khắp nơi về với Đại Nam hội quán và gắn bó với Tính trên con đường lan tỏa các giá trị Chân – Thiện – Mỹ của cha ông. “Hơn 90% thành viên đều tự nguyện tìm đến hội quán. Họ xem đây là một sân chơi chung của những người yêu văn hóa cổ truyền.” – Tính kể.

Yêu văn hóa nên mấy núi cũng trèo

Nếu trang fanpage Đại Nam hội quán là kênh chia sẻ kiến thức thì các chương trình giao lưu, biểu diễn do Tính và các bạn tổ chức là cách tái hiện trực tiếp các nét văn hóa cổ truyền. Tuy gánh nặng tài chính luôn đè nặng lên vai nhưng Tính luôn đặt mục tiêu phải phục dựng một cách chân thực nhất hai giá trị vật chất và tinh thần.

Về giá trị vật chất, như trong chương trình đầu tiên nói về truyền thống đám cưới xưa, để dựng lại hoạt cảnh đám cưới, Tính đã xuống Rạch Giá mượn từng chiếc nón của các gia đình Nam Bộ xưa, đến Long An gặp các nhà sưu tập ở Long An để mượn cái bàn, cái kỉ làm lễ gia tiên. Khi may quần áo cho cô dâu chú rể, Tính cố gắng đưa những bộ áo dài về kiểu dáng tương đối chuẩn, như áo dài chẹt thì may tay nhỏ, mặc áo lót trong, lót ngoài ra sao. “Nói chung, tụi mình lựa chọn hình thức tiệm cận với truyền thống nhất mà vẫn phù hợp với điều kiện của anh em hội quán, thời gian tổ chức và không gian diễn xướng.”

Nhạc cụ của ban nhạc lễ


Trầu cau, bánh mứt cho lễ cưới

Về các giá trị tinh thần, nhóm đặc biệt chú ý đến nhạc lễ và nhạc đờn ca tài tử. “Để khán giả cảm nhận đúng cái hồn của âm nhạc truyền thống, tụi mình hạn chế dùng thiết bị khuếch đại hoặc nhạc cụ hiện đại. Nếu âm thanh không đủ thì tăng người diễn xướng lên. Mọi người sẽ ngồi quây quần để cùng thưởng thức. Tuy chương trình chưa thật chỉn chu nhưng cũng xem như đã gợi mở để mọi người hiểu hơn về giá trị ngày cưới thời cha ông mình.”

Bàn thờ gia tiên trong ngày cưới


Dàn nhạc của Đại Nam hội quán

Người trẻ có quan tâm đến văn hóa nước nhà không?

Tôi đã hỏi Tính như vậy vì không chỉ tôi mà cả Tính vẫn thường nghe nhiều người phàn nàn “bọn trẻ giờ chả mặn mà gì với các giá trị của cha ông.” Tuy nhiên qua khoảng 10 chương trình mà hội quán đã tổ chức với đối tượng quan tâm chủ yếu là sinh viên và giới nghiên cứu, Tính khẳng định chắc nịch: “Người trẻ lúc nào cũng trân trọng, yêu quý văn hóa nước mình, nhất là những người trẻ thời hiện đại. Chính cách làm văn hóa hiện nay – những cách tân làm mất đi cái hồn của truyền thống Việt Nam mới đẩy mọi người xa rời văn hóa.”

Tính hướng dẫn cách mặc áo dài, vấn khăn cho các bạn trẻ

Tính lấy một ví dụ cụ thể về hát bội – một bộ môn nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam mà “có thể sánh với kịch Noh của Nhật Bản hoặc Kinh kịch của Trung Quốc.” Vậy tại sao hát bội không phát triển rực rỡ ở nước mình? Chính sự hiện đại hóa thiếu tính nghệ thuật đã dần giết chết bộ môn này. Những bộ áo, mão, cân, đai lòe loẹt kim tuyến. Những sân khấu đánh đèn rực rỡ “không khác gì cái quán bar cháy đèn”, làm mất đi giá trị thẩm mỹ về trang phục và tạo hình sân khấu. Dàn nhạc cụ dân tộc bị thay bằng mỗi cây đàn organ hay bộ đờn tây. “Nó không mang lại cho khán giả cảm giác về một âm thanh rất Việt Nam mà là thứ âm thanh Tây phương, một âm thanh um sùm, chối tai, chưa kể còn hệ thống khuếch đại âm khiến người nghe khó chịu. Ngồi trước một sân khấu hát bội tạp nham như vậy, dù có chú tâm lắng nghe thì khán giả cũng không lắng đọng được gì.”

Khi thưởng thức một tiết mục văn hóa, điều khán giả khao khát chính là thấy được hồn cốt của Việt Nam được thể hiện chỉn chu qua trang phục, lời lẽ, tạo hình sân khấu. Nhưng trước những đổi mới thiếu tính nghệ thuật, họ chỉ càng cảm thấy xa lạ với văn hóa nước mình. Họ không tìm ra sự khác biệt để tự tin giới thiệu với bạn bè quốc tế rằng “đây là văn hóa Việt Nam.”

Cần có sự tương tác giữa người làm văn hóa và người tiếp nhận

Theo Tính, người làm văn hóa đóng vai trò rất lớn trong việc giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt Nam. Họ nên tạo ra những sản phẩm có giá trị nhân văn và truyền cảm hứng cho cộng đồng. Ở chiều ngược lại, người tiếp nhận cần tích cực phản hồi, nhận xét để hoàn thiện sản phẩm hơn, tiếp tục phát triển và lan tỏa nó. Một sản phẩm dù hay ho tới đâu nhưng bị người nhận thờ ơ hay vùi dập thì vẫn chỉ nằm chờ trong kho. “Nếu người làm văn hóa là cây đuốc thì người tiếp nhận chính là lửa của cây đuốc đó” – Tính khẳng định.

Trọng Tính (người mặc áo dài nâu) trong chương trình chia sẻ về chiếc áo dài Việt Nam

Trong thời kỳ mà chúng ta luôn trăn trở về việc “hòa nhập chứ đừng hòa tan”, về thương hiệu nhận diện của Việt Nam trên trường quốc tế thì những cây đuốc như Đại Nam hội quán thực sự đáng quý. Hiện tại, nhóm dự án đang chuẩn bị ra mắt các đầu sách văn hóa do các bạn nghiên cứu, biên soạn từ trước đến nay. Qua tất cả những hoạt động này, người sáng lập Đại Nam hội quán muốn gửi gắm một tấm lòng: “Xây dựng một cộng đồng yêu văn hóa, đổi mới cái nhìn về văn hóa của người Việt Nam. Văn hóa Việt không phải phong kiến bóc lột, sến súa, ủy mị mà là nền văn hóa có chất riêng. Chất của một nước nông nghiệp, chất của những người yêu lao động, chất của một dân tộc quật cường.” 

Bài: Phương Hạ | Ảnh: Nhân vật cung cấp